Sơn mài trong sản phẩm trang trí ứng dụng

Chất sơn ta đã nâng cao vị thế hơn khi trước kia nó chỉ được dùng để trang trí đình chùa. Đến nay, sơn ta đã   trở thành chất liệu của nghệ thuật hội họa, đồng thời, đáp ứng nhu cầu trang trí trên sản phẩm ứng dụng. Sơn mài vẫn giữ vai trò như vậy cho tới ngày hôm nay. Nghệ thuật sơn mài Việt Nam lớn mạnh trên cơ sở nghề sơn quang dầu cổ truyền và được ứng dụng nhiều vào các đồ trang hoàng như hoành phi, câu đối, cửa võng. Chất sơn vừa làm tăng thêm độ bền đồ vật, vừa sở hữu ý tha ma trí trong nội thất.
Sơn quang quẻ dầu chỉ đơn giản là loại dầu bóng. Với việc thay thế dầu trẩu bằng nhựa thông, những họa sĩ tiên phong đã làm cho cho chất sơn khô giòn và với thể mài được. Sơn mài truyền thống Việt Nam đã xuất hiện trong cả hai lĩnh vực: tranh hội họa, tranh trang hoàng và thiết bị sơn mài. Hai chức năng này song hành lớn mạnh để hình thành hai khuynh hướng: mỹ thuật và mỹ nghệ. Sản phẩm sơn được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống, nguồn gốc từ mục đích và chức năng xã hội, nhu cầu trang trí và tiêu dùng trong đời sống.

Sản phẩm sơn mài  dùng sơn ta khá phong phú, vượt trội và là một trong những mặt hàng có nhiều mẫu và mang giá trị, đem đến lợi nhuận kinh tế xã hội. Từ sau các năm 1980, các đơn hàng cung ứng sơn mài mang chất liệu sơn ta được đặt hàng khối Đông Âu và các nước Xã hội chủ nghĩa không còn. Cùng đó là sự khó khăn trong thị trường với các chiếc sơn Nhật, sơn điều nên việc cung cấp và xuất khẩu những sản phẩm sơn truyền thống dần vắng bóng. Sau đó, các làng nghề truyền thống không khiến cho sơn ta nữa, chuyển sang sơn Nhật, sơn điều, sơn PU để xuất khẩu. Với chức năng là sản phẩm ứng dụng, trước kia sơn ta chỉ hoàn toàn giới hạn lại ở đồ mỹ nghệ, góp vai trò chủ đạo trang trí trong nội thất đình, chùa. Nhìn nhận về sản phẩm sơn mài Việt Nam,  thể nói, chưa lớn mạnh trên đỉnh cao về tạo dáng, màu sắc và chất liệu như tranh sơn mài hội họa. Hội họa sơn mài được trao tay những họa sĩ bậc thầy để đạt đến tầm cao của chất liệu và thành công ở những năm 1955 - 1968, rồi cả sau những năm 1970, 1980 và cho tới hiện tại. Sản phẩm sơn mài ứng dụng thì mang đa dạng trắc trở hơn,  thể chưa sắm được lối đi riêng hay 1 phong phương pháp đặc biệt rõ rệt. Nhật Bản và Hàn Quốc cũng tiêu dùng chất liệu sơn và họ đã thành công ở các đồ trang hoàng từ siêu rộng rãi năm trước đây và cho tới hiện tại.
Với chất liệu sơn mới, người sản xuất dựa trên công nghệ phun màu mang độ phẳng và bóng, kết hợp một vài nguyên liệu truyền thống như vỏ trai, ốc, trứng, thếp bạc mà cho ra các cái sản phẩm rộng rãi như lọ, hộp, khay, tráp quả. Trên bề mặt cốt vóc, không còn là chất liệu sơn ta Phú Thọ vẽ nhiều lớp, mài phẳng, đi nét mềm mại mà thay thế là sơn công nghiệp hay còn gọi là sơn phun PU. Cốt vóc ở đây là chất liệu composite, cốt gốm, xuất hiện từ sau những năm 1990 thay vì cốt gỗ, giấy bồi, vải bồi truyền thống. Cốt gốm, cốt composite đã làm thay đổi tạo dáng tương đối phổ biến trong các khối với tính vận động, không tính các hình khối cơ bản. Các hình thức tạo dáng đa dạng đường cong, ko gian lồi lõm cần được tạo khuôn từ chất liệu gốm hoặc composite để giúp đáp ứng được với những mẫu mã phức tạp.
Xem thêm:
Hanoia và thủ công mỹ nghệ truyền thống
Kỹ thuật sơn mài truyền thống
Cốt vóc composite và sơn khiến vóc là sơn điều, thay vì cốt gỗ cổ truyền và sơn ta sử dụng làm cho vóc, là hai mặt đối lập để phân biệt giữa phương pháp làm cho mới và bí quyết khiến truyền thống. Kỹ thuật sơn mới đã bớt đi đa dạng quá trình so  khoa học sơn ta. Khi khiến cốt vóc, họ bỏ bớt phần bọc vải màn, khâu hom, bó cũng hạn chế và khiến các lớp mỏng hơn. Công đoạn sơn cũng lược bớt để giảm giá thành.
Sơn điều xuất hiện từ sau năm 1975, khi hòa bình lập lại và nhập từ miền Nam, được điều chế từ vỏ hạt điều. Sơn điều sở hữu đủ thành phần hóa học, tính chất vật lý để điều chế thành sơn công nghiệp, phù hợp và dễ sử dụng  độ cứng và khô nhanh trong hầu hết thời tiết, ko bị các giảm thiểu như sơn ta. 
Như vậy, sự với mặt của hai loại sơn Nhật và sơn điều đã dần đẩy sơn ta Phú Thọ xa dần  xuất khẩu và đặt dấu kết thúc chế tạo sơn truyền thống từ sau các năm 1990. Đó cũng là khi những hợp tác xã sơn mài của quốc gia hay của cấp làng, xã, huyện dần đổi thay cơ cấu và chuyển đổi thành những hộ cung ứng cá thể (ở nông thôn) và những nhà hàng nghĩa vụ hữu hạn (từ công ty của nhà nước). Họ bắt buộc tự đầu tư nguồn vốn, tự tìm người mua để quảng cáo và xuất khẩu sản phẩm. Điều này cũng góp phần vào sự biến đổi của truyền thống trong sự biến đổi của cơ chế thị trường.
Cho tới nay, khoa học sơn phun màu trực tiếp lên cốt sản phẩm là tiêu dùng sơn PU, phun bóng bằng sơn Toa, gắn trứng bằng keo Epoxy đã làm cho cho đa dạng người lầm tưởng các sản phẩm sơn đó là sơn mài truyền thống, điều này khiến cho quý khách trên thị trường nước ko kể hay kể cả người Việt coi sơn mài là một địa hạt phổ biến và dùng phương pháp gọi “sơn mài truyền thống” cho mọi những sản phẩm sơn được xuất khẩu nhắc chung. Những năm 1990 còn xuất hiện tên gọi “Áo dài sơn mài”, thật khó với thể hiểu được tại sao từ ghép “sơn mài” lại sở hữu thể dùng  chất liệu vải mềm mại cùng mang tà áo dài lả lướt là vậy. Điều này với lẽ chỉ sở hữu họa sĩ và người làm sơn mới thấy hết nghĩa phi thực tại của nó.Và ta hiểu áo dài sơn mài là lúc mang thể vẽ lên tà áo dài bằng chất liệu màu acrylic, với những họa tiết hoa lá và các hình kỷ hà, thay thế cho việc thêu tay hay sử dụng vải in hoa như trước. Sự kiện này nhắc nhở chúng ta 1 lần nữa nên coi xét kỹ về thuật ngữ sơn mài mới và sơn mài truyền thống để công chúng và xã hội coi trọng và đánh giá đúng thuộc tính của nó.
Trở lại mang thuật ngữ “sơn mài truyền thống” và “sơn mài công nghiệp”, cũng mang thể gọi chung là “sơn mài mới” và “sơn ta truyền thống” để thấy rõ sự khác biệt trong những nguyên liệu dùng cơ bản. Sơn ta Phú Thọ, chất sơn được điều chế từ cây sơn tại chính vùng đồi trung du miền Bắc đã cho ra một sản lượng sơn tuy ko phổ biến và chưa được nhà nước đầu tư nhưng cũng đủ phân phối cho những họa sĩ đã và đang vẽ, sáng tác bằng chất liệu truyền thống. Sơn ta Phú Thọ, sở hữu vàng, bạc cựu, màu son điều chế từ đá thần sa, chu sa, dùng kỹ thuật mài phẳng, vẽ nhiều lớp màu và đánh bóng sản phẩm bằng tay và tóc rối, than… đó là những khía cạnh cơ bản để nhắc lên một sản phẩm sơn mài truyền thống. Sự đổi thay với bí quyết dùng sơn công nghiệp, cốt tử là sơn PU, phun màu lên sản phẩm, tiêu dùng bạc thiếc, vàng miếng kim loại, không vẽ đa dạng lớp, ít công đoạn mài phẳng, phun bóng bằng sơn PU, dùng keo để gắn vỏ trai, ốc... chính là một trong những thành tố chủ đạo của bí quyết khiến cho sơn mới, khác siêu đa dạng so mang sơn truyền thống. 
Về mặt nghệ thuật mà nói, sơn điều và sơn Nhật không sở hữu độ sâu, trong như sơn ta khi phủ trên bề mặt sản phẩm, độ bền ko cao như sơn ta, nhưng lại đạt tiêu chí về độ cứng và giá tiền sản phẩm đáp ứng được với chế tạo và thời gian yêu cầu của các hiệp đồng sản xuất. Nền công nghiệp phát triển, đòi hỏi những sản phẩm tương ứng nên sẽ  các sản phẩm ưng ý với cung ứng công nghiệp, đó là điều phù hợp  giai đoạn vững mạnh của lịch sử. Việc sử dụng hai loại sơn Điều và sơn Nhật cũng thích hợp với quy luật phát triển của sản xuất và tạo phải hướng rộng mở hơn cho sản phẩm sơn ta từ bấy lâu ko còn thấy trên thị trường xuất khẩu. Sơn mài truyền thống không còn là chất liệu được các làng nghề hay nhà hàng xuất khẩu sơn mài sử dụng, chỉ còn những họa sĩ sáng tác và  các tác phẩm độc lập lúc tham gia các triển lãm mỹ thuật vận dụng trong nước hoặc các triển lãm của Hội Mỹ thuật Việt Nam tổ chức hàng năm. Như vậy, cũng cần đổi thay quan niệm để phân biệt sơn truyền thống và nên gọi là “sơn mới” thay vì rộng rãi ý kiến trái chiều gọi là “sơn mài dởm” như hiện nay.
Mỗi 1 chất liệu đều đóng vai trò mới và tụ hội đủ tính chất để đặt tên cho mỗi cái sản phẩm riêng, ví dụ như sơn Phú Thọ, sơn Điều, sơn Công nghiệp, sơn PU. Đây là 1 bí quyết đặt tên hơi chuẩn mực mang cách gọi đúng bằng chính chất liệu mà người ta tìm dùng trên mỗi cốt vóc sơn mài. Nếu khiến sơn Nhật trên cốt gốm thì gọi là sản phẩm sơn Nhật trên cốt gốm, với sơn điều thì gọi là sản phẩm sơn điều, ngoài ra còn sở hữu sơn PU lên cốt composite như chúng ta phân biệt sơn dầu hay acrylic, màu bột và thuốc nước, khi hiệu quả sở hữu những sự giống và khác nhau.
Và như vậy, dòng sản phẩm sơn ta, sơn điều, sơn Nhật mới với cách nhìn khác, khách quan, rộng mở hơn để mặc 1 áo khoác mới trên một thị trường sản xuất nhiều để đáp ứng nhu cầu nhiều cuộc sống. Sản phẩm sơn công nghiệp theo nghĩa rộng bao hàm những sản phẩm được sản xuất và xuất khẩu tại các làng nghề, đặc thù là Hạ Thái và trên thị trường hiện nay. Như vậy, từ một sản phẩm sơn, ta bắt buộc phân biệt rõ nó thuộc dòng sơn nào như sơn Nhật, sơn điều, để đánh giá hiệu quả thẩm mỹ cộng giá trị, độ bền của sản phẩm. Sản phẩm sơn mài truyền thống, những khoảng thời kì đã qua cho vô cùng nhiều tiếc vì vẻ đẹp và giá trị của nó chưa được khẳng định, chưa nâng tầm tinh xảo và điêu luyện về kỹ thuật để đạt đến một thương hiệu với tầm thời đại. Bên cạnh đó, các sản phẩm sơn công nghiệp đã làm đổi thay quan niệm và phương pháp nhìn mang sự thật dụng hơn nhiều, khía cạnh nghệ thuật giảm để chi tiết ứng dụng đẩy lên cao hơn. Đó là một ngã rẽ cho hàng tay chân xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, khó hơn cả vẫn bắt buộc tăng giá trị sản phẩm sơn ngày nay sở hữu những khía cạnh trang trí đẹp, hiện đại, mang tạo dáng phong phú, không quá phụ thuộc vào những ngoại hình của nước ngoài, để sản phẩm sơn mài Việt Nam với tiếng đề cập riêng và với giá trị thẩm mỹ độc đáo. 
Nếu được ứng dụng các công nghệ truyền thống như dán bạc, đi nét, tạo chất bằng sự đối nghịch giữa chất trong và chất đục, gắn trứng tạo hiệu quả tinh tế, màu sắc đẹp ko quá bó hẹp, cũng không quá sặc sỡ, thì các sản phẩm được gọi chung là sơn mài bây giờ sẽ sở hữu phổ biến khía cạnh nghệ thuật hơn. Đặc biệt,  các tạo dáng tinh tế, tỷ lệ hài hòa sẽ tạo cho sản phẩm sơn mài công nghiệp hiện nay sở hữu sự mềm mại, ko bị khuôn ép, bớt đi độ cứng trong việc tiêu dùng nhiều màu sắc đơn giản như trắng, đỏ, vàng, đen và sự đồng điệu về công nghệ hay họa tiết trang trí. Rất cần sở hữu đa dạng nguồn lực cộng  sự đầu tư và sự chung tay của người sản xuất, nhà thiết kế, người hiểu biết khoa học sơn mài truyền thống để trao đổi, học tập để cộng phát triển 1 chất liệu vốn đã  giá trị truyền thống và góp mặt, đồng hành cùng cuộc sống của người Việt 1 khoảng thời gian dài đã qua.

Chia sẻ

Bài viết liên quan

Chưa có bài
Bài sau
Next Post »