Chất sơn ta đã nâng cao vị thế hơn khi trước kia nó chỉ được dùng để trang trí đình chùa. Đến nay, sơn ta đã trở thành chất liệu của nghệ thuật hội họa, đồng thời, đáp ứng nhu cầu trang trí trên sản phẩm ứng dụng. Sơn mài vẫn giữ vai trò như vậy cho tới ngày hôm nay. Nghệ thuật sơn mài Việt Nam lớn mạnh trên cơ sở nghề sơn quang dầu cổ truyền và được ứng dụng nhiều vào các đồ trang hoàng như hoành phi, câu đối, cửa võng. Chất sơn vừa làm tăng thêm độ bền đồ vật, vừa sở hữu ý tha ma trí trong nội thất.
Thương hiệu Hanoia ra mắt sản phẩm tại Tp. Hồ Chí Minh
Hanoia nghệ thuật sơn mài
Ngày 18/8/2017 vừa qua, nhà chế tác sơn mài cao cấp Hanoia chính thức ra mắt sản phẩm của thương hiệu Hanoia tại Áo Dài House, 107 Đồng Khởi, Q.1, Tp. Hồ Chí Minh.
Bí quyết làm lụa đen tuyền "Lãnh Mỹ A"
Lãnh mỹ A Mặc nưa
Khi phơi lụa phải xem trời nắng tốt để phơi cho được 4 nắng
Từ đầu thế kỷ trước, Tân Châu đã mọc lên những cơ sở nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa. Tháng 7/1908, Pháp đã thành lập Viện Nghiên cứu tơ tằm tại Tân Châu, nhằm cung cấp lụa cho chính quốc.
Lãnh mỹ A và niềm tự hào của người dân Tân Châu
Ca dao Nam Bộ có câu:
" Trai nào bằng trai hai huyện
Tháng ngày dệt lụa trồng dâu
Nói về nghề tơ tằm, chúng ta thấy rằng đây là một trong những nghề thủ công truyền thống nổi tiếng ở An Giang. Nhìn lại lịch sử, khi chiếm được Nam Kỳ, một trong những nghề thủ công nghiệp mà Thực Dân Pháp quan tâm khai thác là nghề dâu tằm. Pháp chọn Tân Châu làm trọng điểm để thực hiện các biện pháp phát triển nghề tằm tơ cả Nam Kỳ nhằm cung cấp tơ tằm cho chính quốc. Chúng cho thành lập ở Tân châu một Viện tằm tơ (tháng 7/1908). Vì thế không có gì ngạc nhiên khi Tân Châu cũng là trung tâm sản xuất và buôn bán tằm tơ nổi tiếng ở Nam Kỳ và Campuchia lúc bấy giờ. Chính nhờ có Viện này mà tằm tơ được tuyển chọn những giống tốt cho năng suất và chất lượng cao để tiến hành nhân giống, đồng thời cũng tiến hành phổ biến kỹ thuật đến người dân trong vùng. Song song đó, Chính quyền lúc bấy giờ cũng đã miễn thuế đất cho diện tích trồng dâu và những chính sách hỗ trợ khác nữa. Vùng Tân Châu là vùng đất cù lao có đất đai, khí hậu thích hợp cho việc trồng dâu nuôi tằm. Năng suất trồng dâu và chất lượng tơ nơi đây tốt hơn những nơi khác. Lúc đầu nông dân nuôi những giống kén vàng nhưng sau đó với đà phát triển đã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nên nông dân đã chuyển sang nuôi những giống tằm lưỡng hệ trắng và các cặp lai của nó. Những giống tằm này cho năng suất cũng như chất lượng kén và tơ cao hơn. Tuy nhiên việc nuôi tằm rất cực nhọc nhất là vào thời điểm tằm ăn lên.
Sau khi xử lý kén là đến giai đoạn ươm tơ. Trước đây nghề ươm tơ còn đơn giản theo lối cổ truyền như: kén được cho vào nồi nước sôi, sau đó kéo mối tơ và gắn vào bánh xa quay, người thợ ươm tơ khuấy đôi đũa liên hồi vào nồi nấu kén đồng thời tay cũng quay đều đầu bánh xe để cuộn tròn các sợi tơ. Quay mãi cho đến khi còn lại xác con tằm. Về sau nông dân đã cải tiến khâu ươm tơ sử dụng xa ươm tơ bông sen và cơ giới hoá để nâng cao năng suất và chất lượng tơ. Tơ thô sau đó được tháo ra từ các bó để se lại thành sợi to. Rồi được dệt lại thành những tấm lụa.
Lụa Tân Châu nổi tiếng với thương hiệu Lãnh Mỹ A là một trong những loại mặt hàng "độc nhất vô nhị" mà bất kỳ người phụ nữ nào ở thế kỷ XX cũng đều mơ ước được mặc những chiết quần lãnh đầy nét quyến rũ này. Lãnh Mỹ A là một loại lụa dệt bằng tơ tằm, được gia công bằng những công thức rất độc đáo. Nó không có nhiều màu sắc như những loại vải hiện nay, nó chỉ có một màu đen huyền bóng loáng và không bao giờ phai màu. Điều đặc biệt và cũng là nét đặc trưng cho sản phẩm này chính là khả năng không co giãn và không hút ẩm của nó. Lãnh Mỹ A mặc vào mùa hè thì rất thoáng mát, mặt vào mùa đông thì ấm áp lạ thường . Dấu hiệu dễ nhận thấy được của những người thợ nhuộm lụa Tân Châu là đôi bàn tay bị đen do tiếp xúc với phẩm nhuộm. Nhưng điều đặc biệt ở đây là phẩm nhuộm không phải là những hoá chất được pha chế như hiện nay, nó là nhựa của một loại quả gọi là quả mặc nưa. Loại quả này có nguồn gốc từ Campuchia được những người thợ nhuộm mua quả chở về (mùa thu hoạch quả mặc nưa bắt đầu vào khoảng tháng 5 tháng 6). Sau đó người dân nơi đây tự trồng lấy, không ngờ loại cây này lại rất thích hợp với vùng đất Tân Châu.
Cây mặc nưa là một loại cây gỗ có màu đen, thân già thì xù xì do có những mảng da bong ra, lá mỏng, chùm quả tròn trĩnh gần giống như quả nhản đung đưa trước gió. Những quả mặc nưa sau khi thu hái đem về được phân loại lớn nhỏ khác nhau và đặc biệt là loại bỏ những quả chín vì không còn nhựa nữa. Trái mặc nưa được đem về giã nát bằng cối đá hoặc bằng máy nghiền sau đó hoà vào nước tạo nên một dung dịch có màu vàng rất đẹp, màu này sẽ chuyển sang màu đen huyền khi tiếp xúc với không khí và nhiệt độ. Dung dịch này được gạn bỏ bả và được dùng để nhuộm lụa Tân Châu.
Xem thêm:
Lụa sau khi nhuộm xong được phơi trong nắng, những bãi phơi lãnh rất rộng được trải bằng như tàu lá dừa hoặc trồng cỏ. Có những sân phơi làm những cộc phơi những cây hàng dài 20 mét. Lụa sau khi dệt xong thành từng cây màu trắng có những hoa văn đơn giản nhưng rất phù hợp với màu sắc đen huyền của lãnh. Những tấm lụa được nhúng vào trong dung dịch nước mặc nưa sau đó vắt kỹ đem ra nắng phơi, một ngày có thể nhuộm nhiều lần như thế rồi phơi. Cái đen huyền của nhựa mặc nưa thấm vào từng sợi tơ. Công việc này lặp đi lặp lại nhiều ngày nếu như thời tiết bình thường thì khoảng 40-45 ngày thì hoàn tất công đoạn nhuộm. Trong khi đó khoảng 5 đến 7 ngày người thợ nhuộm phải đem những cây hàng (đơn vị tính cho một cây lụa) đi nện (công đoạn bắt buộc khi gia công Lãnh Mỹ A, bởi lẽ sợi vải phải chịu tác dụng lực cơ học lên bề mặt mới tạo độ bóng bền cho lãnh). Lãnh sau khi phơi khô được quấn lại thành cuộn tròn và đem đi nện. Lúc trước những người thợ nện dùng những cây búa gỗ nện, những sau này họ sử dụng những máy nện hàng, những tiếng nện hàng đêm khuya tạo nên nét đẹp của vùng quê xứ lụa. Thế cũng chưa hết, lụa còn trải qua các giai đoạn hồ, xả nữa mới tạo được một tấm lụa Mỹ A tuyệt đẹp mang một màu đen huyền bóng loáng.
Nghề trồng dâu nuôi tằm có lẽ cực thịnh nhất vào giai đoạn 1935-1965. Từ năm 1976 đến nay nghề trồng dâu nuôi tằm chỉ còn rải rác ở một số nơi. Giờ đây lụa Tân Châu đã không còn như trước nữa, những cảnh phơi lụa trên những cánh đồng, cảnh tất bật khi mưa đến, những câu hát vang cả khúc sông của những cô thiếu nữ xả lụạ chỉ còn trong ký ức. Nhưng những gì lịch sử đã ghi lại là mãi mãi.
Kỹ thuật sơn mài truyền thống
Hanoia lacquer nghệ thuật sơn mài
Sơn mài được coi là một trong các chất liệu hội họa ở Việt Nam. Đây là sự tìm tòi và phát triển kỹ thuật của nghề sơn (nghề sơn ta) thủ công truyền thống của Việt Nam thành kỹ thuật sơn mài riêng. Tuy nhiên, từ dùng để gọi sơn mài (tiếng Anh: lacquer) thường được hiểu sang các đồ dùng sơn mỹ nghệ của Nhật, Trung Quốc. Xin lưu ý, kỹ thuật mài là điểm khác biệt lớn giữa đồ thủ công sơn mỹ nghệ và tranh sơn mài Việt Nam.
Sơn mài được coi là một trong các chất liệu hội họa ở Việt Nam. Đây là sự tìm tòi và phát triển kỹ thuật của nghề sơn (nghề sơn ta) thủ công truyền thống của Việt Nam thành kỹ thuật sơn mài riêng. Tuy nhiên, từ dùng để gọi sơn mài (tiếng Anh: lacquer) thường được hiểu sang các đồ dùng sơn mỹ nghệ của Nhật, Trung Quốc. Xin lưu ý, kỹ thuật mài là điểm khác biệt lớn giữa đồ thủ công sơn mỹ nghệ và tranh sơn mài Việt Nam.
alt
Tranh sơn mài sử dụng các vật liệu màu truyền thống của nghề sơn như sơn then, sơn cánh gián làm chất kết dính, cùng các loại son, bạc thếp, vàng thếp, vỏ trai, v.v. vẽ trên nền vóc màu đen. Đầu thập niên 1930, những họa sĩ Việt Nam đầu tiên học tại trường Mỹ thuật Đông Dương đã tìm tòi phát hiện thêm các vật liệu màu khác như vỏ trứng, ốc, cật tre, v.v. và đặc biệt đưa kỹ thuật mài vào tạo nên kỹ thuật sơn mài độc đáo để sáng tác những bức tranh sơn mài thực sự. Thuật ngữ sơn mài và tranh sơn mài cũng xuất hiện từ đó. Tranh có thể được vẽ rồi mài nhiều lần tới khi đạt hiệu quả mà họa sĩ mong muốn. Sau cùng là đánh bóng tranh.
Sản phẩm của Hanoia
Người ta thường lưu ý rằng sơn mài có những điểm "ngược đời": muốn lớp sơn vừa vẽ khô, tranh phải ủ trong tủ ủ kín gió và có độ ẩm cao. Muốn nhìn thấy tranh lại phải mài mòn đi mới thấy hình.
Hầu hết họa sĩ đồng ý rằng: kỹ thuật vẽ sơn mài khó và có tính ngẫu nhiên nên nhiều khi các họa sĩ dày dặn kinh nghiệm cũng bất ngờ trước một hiệu quả đạt được sau khi mài tranh.
Các nguyên liệu sử dụng trang trí
Một sản phẩm sơn mài sử dụng khá nhiều nguyên liệu: đó là sơn, màu và các nguyên liệu khác. Có thể kể ra đây một vài nguyên liệu phổ biến như:
* Sơn: khai thác từ cây sơn, ngoài ra còn dùng dầu trẩu, dầu trám, nhựa thông và nhựa dó...
* Màu: sơn mài cổ truyền dùng 2 màu cơ bản là cánh gián đen và đỏ, loại màu chế từ khoáng chất vô cơ (ví dụ: son) nên không bị phân huỷ trước ánh sáng và thời gian.
* Các sản phẩm từ bạc như bạc thếp, bạc dán, bạc xay, bạc dầm...
* Các sản phẩm từ vàng như vàng thếp...
* Các vật liệu khác: vỏ trứng, vỏ trai, vỏ ốc, bột điệp...
* Ngày nay, người ta đã chế tạo thành công các loại sơn công nghiệp có thể thay thế các loại sơn mài cổ truyền do có nhiều ưu điểm, nhất là dễ dàng trong sản xuất tranh và màu sắc thì vô cùng phong phú.
Các công đoạn chính của công nghệ sơn mài
Có thể nói công nghệ sơn mài chỉ có nguyên lý chung nhưng khác biệt trong kinh nghiệm, kỹ thuật của từng cá nhân, từng gia đình cũng như nó được biến đổi kỹ thuật làm tranh khác với làm tượng, lại khác với trang trí đồ vật, sơn phủ hoàng kim... Có thể chia làm một số công đoạn chính sau: bó hom vóc, trang trí, mài và đánh bóng.
Bó hom vóc
Việc hom bó cốt gỗ (đồ vật cần sơn) ngày xưa thường được người làm sử dụng giấy bả, loại giấy chế từ gỗ dó nên rất dai, có độ bền vững hơn vải. Cách bó hom vóc được tiến hành như sau: dùng đất phù sa (ngày nay người thợ có thể dùng bột đá) trộn sơn ta giã nhuyễn cùng giấy bản rồi hom, chít các vết rạn nứt của tấm gỗ. Mỗi lớp sơn lại lót một lớp giấy (hoặc vải màn) sau đó còn phải đục mộng mang cá để cài và gắn sơn cho các nẹp gỗ ngang ở sau tấm vóc (ván gỗ) để chống vết rạn xé dọc tấm vải. Sau đó để gỗ khô kiệt mới hom sơn kín cả mặt trước, mặt sau. Công đoạn này nhằm bảo vệ tấm vóc không thể thấm nước, không bị mối mọt, không phụ thuộc môi trường làm gỗ co ngót. Xử lý tấm vóc càng kỹ, càng kéo dài tuổi thọ cho đồ vật cần sơn, mỗi tác phẩm sơn mài có tuổi thọ 400-500 năm.
Trang trí
Khi có được tấm vóc nói trên (hoặc các mô hình chạm khác bình hoa, các bộ đồ khác), người chế các món đồ phải làm các công đoạn gắn, dán các chất liệu tạo màu cho tác phẩm trước tiên như: vỏ trứng, mảnh xà cừ, vàng, bạc...sau đó phủ sơn rồi lại mài phẳng, tiếp đến dùng màu.
Với kỹ thuật sơn phủ tượng và đồ nội thất như: hương án, hoành phi, câu đối... người thợ phải làm trong phòng kín và quây màn xung quanh để tránh gió thổi các nguyên liệu: quỳ vàng, quỳ bạc, tránh bụi bám vào nước sơn còn ướt.
Mài và đánh bóng
Vì dầu bóng đã pha màu để vẽ nên độ bóng chìm trong cốt màu tạo thành độ sâu thẳm của tranh, do đó sau mỗi lần vẽ phải mài. Người xưa sử dụng lá chuối khô làm giấy nháp. Đến nay, nguyên tắc đánh bóng tranh lần cuối chưa có gì thay thế phương pháp thủ công vì loại tranh này không được phép phủ dầu bóng. Đó chính là điểm độc đáo của tranh sơn mài. Sự thành công của một bức tranh sơn mài phụ thuộc rất lớn vào công đoạn sau cùng. Có một số thứ để mài và đánh bóng như: than củi xoan nghiền nhỏ, tóc rối, đá gan gà v.v..
Làng nghề sơn mài
Việc làm sơn mài luôn phụ thuộc thời tiết - nó rất thích hợp mùa xuân và những ngày mưa đầu hạ. Điều đó làm ta thấy sự phân bố làm nghề sơn mài không những chia theo khu vực sản phẩm mà còn có yếu tố liên kết phục vụ lẫn nhau.
Làng nghề sơn mài Phù Lào (Tiên Sơn - Bắc Ninh) thường lấy quỳ vàng, quỳ bạc của làng Kiêu Kị (Gia Lâm), lấy giấy dó của làng Đông Cao, lấy vải màn của làng Đình Cả, lấy vóc hoặc sản phẩm chạm khắc của làng Phù Khê, lấy nguồn sơn thô của Phú Thọ, Yên Bái và lấy nguồn dầu trẩu, dầu trám của Lạng Sơn, Cao Bằng...
Hà Nội ngày nay vẫn là đầu mối tập trung nguyên liệu và các bậc chế tác nghệ thuật sơn mài nổi tiếng. Đa phần họ có gốc thành viên của các làng nghề truyền thống nhập cư Hà Nội và tạo nên 36 phố phường ngày trước.
Sơn mài thời hiện đại
Hiện nay, tranh sơn mài sử dụng nguyên liệu là sơn Nhật được dùng khá phổ biến. Do sơn ta có hạn chế là dễ gây tác động phụ cho người sử dụng (bị "sơn ăn"), ngoài ra, khi dùng sơn ta, tranh lại phụ thuộc vào thời tiết khá nhiều. Khi thời tiết có độ ẩm cao thì sơn càng nhanh khô, nếu thời tiết khô ráo (độ ẩm thấp) thì sơn rất lâu khô. Do vậy, sơn ta ít khi được dùng tại các nước có khí hậu khô ráo. Trong khi đó, sơn Nhật lại nhanh khô và làm cho việc ai đó muốn vẽ tranh ở nước ôn đới cũng có thể thực hiện được. Nhưng khi sử dụng sơn Nhật, để tranh được bóng, bây giờ người ta thường dùng một lớp sơn trong (sơn cánh gián) phủ ra bên ngoài tranh, còn nếu tranh sơn mài dùng sơn ta, chỉ cần lấy nắm tóc rối xoa lên tranh, hoặc dùng bàn tay có độ ẩm (có ít mồ hôi) xoa lên tranh, tranh sẽ rất bóng. Tuy nhiên, tranh sơn màu dùng sơn ta vẫn được ưa chuộng hơn vì sự công phu trong quá trình làm tranh và khi nhìn, nó tạo độ sâu cho bức tranh hơn.
Sơn mài ngày nay không chỉ còn ứng dụng sản xuất tranh sơn mài, hoành phi hay câu đối... nó còn được phát triển để sản xuất các mặt hàng nội thất cao cấp như bàn ghế, giường tủ... Gốm sơn mài hiện là mặt hàng được ưa chuộng tại nhiều nước.
Các họa sĩ nổi tiếng với tranh sơn mài
Trước thập niên 1930, người ta chỉ dùng sơn ta trong trang trí đồ thờ cúng, làm hàng mỹ nghệ. Vào thời gian này, một số họa sỹ Việt Nam đầu tiên đang học như Trần Quang Trân, Nguyễn Gia Trí, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Trần Văn Cẩn và nghệ nhân Đinh Văn Thành đã mạnh dạn thử nghiệm đưa kỹ thuật sơn ta vào làm tranh nghệ thuật.
Câu chuyện về Lãnh mỹ A và người cuối cùng dệt nó
Hanoia Lãnh mỹ A Tân Châu
“Bên nàng mặc lãnh Mỹ A
Đưa đò sang chợ, tưởng xa hóa gần”
Tôi đã đi hơn 2000 cây số để được chạm tay vào mặt lụa đen huyền mát lạnh lóng lánh sáng, đẹp và buồn như được dệt bằng những hàng châu sa; để được tận tai nghe câu chuyện của người cuối cùng dệt Lãnh Mỹ A; tận mắt thấy một thái độ sống, một cam kết xác tín với nghề – hoang đường và khó tin như đàn khủng long thời tiền sử bỗng đường bệ đi vào thành phố.
Trái mặc nưa
Nguyễn Hữu Trí cầm trên tay nhánh cây mặc nưa biếc xanh có trái tròn mọng bóng mướt màu lam ngọc, nói bằng giọng vừa cưng nựng vừa phát phiền: “Cái loài khó tính đỏng đảnh! Chăm nó quá thì nhựa bị hư, muốn nhựa tốt phải cằn cỗi thì lại ít quả. Đốn quả phải dùng ngay vì nó nhất định không chịu cho người ta giữ khô, quả vừa chín là hết nhựa. Mưa quá nắng quá đều không chịu, cây gì mà phải chặt đau đớn mới ra trái, để vươn ngọn xanh tốt lại vô duyên….”.
Nếu coi sợi tơ tằm là da thịt thì nhựa trái mặc nưa là nhan sắc của loại lụa cầu kỳ duy mỹ số một trên dải đất Việt: Lãnh Mỹ A.
Thời Pháp mới đặt đô hộ Nam Kỳ, có người Pháp tên là De Colbert về xứ Tân Châu thấy thổ nhưỡng khí hậu phù hợp đã lập ra Sở Kén, chuyên trị việc trồng dâu nuôi tằm lấy tơ dệt lụa. Lãnh Mỹ A được dệt từ thứ tơ hảo hạng của những Ông Tằm khỏe nhất, nhuộm đi nhuộm lại nhựa trái mặc nưa trong hàng tháng trời. Thứ lụa trơn láng, đen nhưng nhức ấy mặc vào người như được vuốt ve trên da thịt, mùa hè mát rượi, mùa đông ấm sực dù chỉ khoác lớp tơ mỏng nhẹ, càng mặc càng giặt càng đen huyền, màu đen “chết không đổi tính” cho đến tận khi rách bục. Nguyên liệu hảo hạng, biết bao vất vả mới làm nên tấm vải, nên xưa kia chỉ bậc giàu có thượng lưu mới dùng lãnh Mỹ A mặc vào dịp ăn chơi sang trọng như đi xem hát- lễ tết – đám tiệc, tấm lãnh được người ta giữ như bảo vật trong nhà.
Xưa, người Tân Châu nhuộm lãnh bằng vỏ cây già rồi đạp bùn. Vải lên đen những không bền màu, nhanh phai và ánh đỏ. Tám Lăng, chàng thanh niên khỏe mạnh và tháo vát, nghe nói bên Cao Miên có trái mặc nưa chuyên dùng làm màu nhuộm, đã quyết đi qua biên giới mang về cho những nhà dệt trong vùng. Người Miên đập trái mặc nưa ra lấy nhựa, nhuộm vải rồi xả đi rồi lại nhuộm, cứ như thế cho khi mặt lụa đủ ngấu màu đen. “Vải của người Miên mặc thật lâu mới lên nước, sau khi chịu bao vầy vò giặt giũ. Chính vì thế, về Tân Châu tôi bàn với những nhà dệt vừa nhuộm vừa đập vải, cho thớ tơ vỡ ra. Ai ngờ đau đớn lại làm nên sự mềm mượt bóng huyền ngay lập tức cho miếng lãnh Mỹ A…”. Hơn nửa thế kỷ sau, ông già Tám Lăng ở tuổi 88 ngồi trong vườn nhà, thong thả kể lại cho chúng tôi nghe về những ngày trai trẻ vượt rừng đi tìm màu cho dòng lụa sang quý nhất của Tân Châu.
1975, Tám Lăng dừng việc đi buôn trái mặc nưa, bởi ông đã kịp nhân được giống cây ngay tại quê nhà. Với vốn liếng kha khá, Tám Lăng mở một xưởng dệt lớn. Vì ông quá mê mẩn lãnh Mỹ A, muốn mang vốn liếng kinh nghiệm học được từ hàng chục năm đưa mặc nưa để làm ra một thứ lãnh thật đẹp thật nuột nà. Nhưng chiến tranh loạn lạc, việc sống khó nhọc bươn trải khiến người ta đâu dám mơ đến sự xa xỉ của việc mặc. Cả vùng Tân Châu không còn dệt tơ tằm, bãi dâu bị chặt, lò tơ ngưng quay, nghề chăn tằm vì thế chết tuyệt gốc. Các khung cửi dệt tay hầu hết chuyển sang dệt thứ sợi nilon phổ biến và rẻ tiền. Những nhà dệt lớn vì xót xa thứ lụa vốn là niềm kiêu hãnh của một vùng đất đều cố gắng cầm cự. Giống như vị thuyền trưởng chỉ rời khỏi con tàu đắm khi tất cả hành khách và thủy thủ đoàn đã xuống hết, Tám Lăng chống cự đến cùng trước cái chết của lãnh Mỹ A, cho tới năm 1984 thì người chủ xưởng ấy đành chấp nhận đóng khung dệt lãnh cuối cùng.
Lãnh được cuộn lại rồi cho vào đập cho vỡ thớ tơ
Xưa nay, phàm thứ gì quý hiếm thì đều khó khăn đỏng đảnh. Như loại len Baby Cashmere thượng thừa xa xỉ và cầu kỳ, được lấy từ lông tơ của những con dê sống trên dải cao nguyên Gobi cao hơn 4000m so với mực nước biển. Nơi được gọi là “sa mạc lạnh” với mùa đông nhiệt độ có thể xuống dưới -45oC và mùa hè là 45oC, đã ban tặng cho những chú dê bộ lông hoàn hảo để đương đầu với thời tiết nghiệt ngã. Mỗi chú dê Baby Cashmere chỉ có thể cho tối đa 30gr lông sợi với kích thước từ 13-15 micromet, đặc biệt lông được thu hoạch thủ công (không được xén cắt mà phải chải tách lông trên vùng lưng chú dê non) vào đúng mùa xuân. Thứ len nhẹ và xốp như mây, mềm mượt và siêu ấm ấy đắt đỏ như vàng ròng (cần tới lông của 60 chú dê mới đủ lượng len để dệt một chiếc áo khoác). Gần đây, người Ấn Độ đã nhờ khoa học can thiệp đôi chút để “nhân bản” ra loại dê Cashmere thích nghi được môi trường ấm áp hơn, việc chăn thả dự định sẽ ở các vùng có độ cao thấp hơn, khí hậu bớt khắc nghiệt hơn. Điều đó giúp tăng số lượng đàn dê và sản lượng len. Tuy nhiên, can thiệp này đã vấp phải sự phản đối đến mức phẫn nộ từ những kẻ khó tính nhất định thủ tiết với sự cầu kỳ. Họ coi cố gắng để nhiều lên ấy như một sự phản bội tinh thần độc bản của len Cashmere.
Rất tiếc quá nhiều người hiểu lầm giá trị của đồ xa xỉ nằm ở khía cạnh vật chất, trong khi xa xỉ luôn nằm trong tinh thần. Độ tinh xảo và hiếm có, tính thẩm mỹ xuất sắc của sản phẩm, sự đầu tư đến mức hoang đường về thời gian và không gian, thái độ và kỹ năng của người thợ trong quá trình sản xuất – mới làm nên giá trị xa xỉ. Những thứ thượng phẩm vì thế luôn hiếm hoi và cực nhọc, đằng sau câu chuyện xa xỉ phẩm thường là triết lý cực kỳ chính xác và xúc động về cái Đẹp. Ông Tám Lăng và người con trai nối nghiệp Nguyễn Hữu Trí có thể chưa từng biết sự đỏng đảnh khó chịu của thế giới xa xỉ phẩm mà cuộn len vàng ròng từ chú dê baby Cashmere là một ví dụ. Nhưng bao năm nay cha con họ vẫn luôn thanh thản đối xử với nghề bằng thái độ kỹ lưỡng, bằng sự trung tín bền bỉ như đương nhiên phải thế. Ông Tám có 10 người con, mỗi Trí mê mẩn nghề dệt. Anh nhận trọn vẹn từ cha mình lòng quyến luyến lụa và lãnh, như nhận mang vác một gánh nặng, một báu vật, một nợ nần truyền đời. Đường yêu kết từ tơ tằm và trái mặc nưa mà ông Tám Lăng khởi sự nên, Trí sẽ phải đi hết…
Ông Tám Lăng gọi ngày mà “người đàn bà định mệnh” ấy tìm đến mình là ngày ơn phước. “Năm 1990, cô Râu tìm đến xưởng dệt Tám Lăng để hỏi về lãnh. Lúc đó, gần 1.000 khung dệt trong vùng chỉ dệt sợi nilon. Cô Râu rủ tôi: “Hãy quay lại dệt lãnh Mỹ A! Phải dệt bằng sợi tơ tằm, màu nhuộm từ thiên nhiên, làm thủ công hoàn toàn. Chỉ cần ông cố gắng dệt ra vải tốt hơn cả lãnh Mỹ A cũ, tôi sẽ cố gắng bán vải!”. Cô Râu tên là Rose Morant – nghệ sĩ đương đại, designer của một hãng thời trang xa xỉ của Pháp – lọ mọ đến Việt Nam để tìm vùng nguyên liệu thủ công và độc bản. Trong những truyền đạt ngắn gọn và đơn giản nhất từ Rose, ông Tám Lăng hiểu ngay việc của mình chính xác là phải làm ra những tấm lụa không thể đẹp hơn, bất kể mất bao nhiêu thời gian hay bao nhiêu khó nhọc.
Việc đếm lỗi trên một cây lụa là hành vi hầu như không xuất hiện trong suy nghĩ của những người thợ thủ công chân lấm tay bùn, bao đời nay họ thao tác như một quy trình mặc nhiên “chăm hay không bằng tay quen”. Rose Morant thì yêu cầu gay gắt về kiểm soát lỗi. “Năm đầu tôi được phép có 10 lỗi trên một cây lụa 20m dài, sau đó chỉ được quá lắm là 5 lỗi”- ông Tám Lăng nhớ lại. Nếu bạn hiểu thế nào là “lỗi” theo quan niệm của họ, thì tôi tin ước mơ về nghề nghiệp của bạn vĩnh viễn sẽ không có chữ “dệt lụa”. Ngưng thoi dệt lâu quá vài giây, sợi tơ tằm bị “nguội” nên khi dệt tiếp sợi bị hằn lên bằng cọng tóc chẻ làm mười – cũng coi là một lỗi chỉ được quyền vi phạm 1 lần trên 20m vải! Mà trong chi chít công đoạn từ tách/se tơ, nhuộm/giặt/đập/phơi/là phẳng lụa…kéo dài suốt nhiều tháng trời, không được phép xảy ra quá 5 lỗi phải soi kính lúp mới tìm thấy – bạn có thấy muốn bệnh không?
Từ yêu cầu “khó phát điên” của Rose thì lãnh Mỹ A đành phải chuyển vùng nguyên liệu. Khí hậu Bảo Lộc- Lâm Đồng quanh năm mát ẩm, là nơi duy nhất ở Việt Nam nuôi được giống tằm có gốc từ vùng núi Phú Sĩ – Nhật Bản. Một Ông Tằm tốt sẽ nhả được thước tơ chừng 700m, lãnh đẹp nương vào tơ, vì thế dệt lãnh phải chọn tơ loại Một được lấy từ ông tằm khỏe, kén chín vào mùa xuân, sợi tơ dài nuột nà mềm mượt không mối nối, mang màu trắng ngà nhìn vào cảm giác trong veo như sợi cước. Tơ Bảo Lộc về đến xưởng Tám Lăng sẽ có thợ chuyên quay tơ se sợi (mỗi sợi dệt ngang được chập lại từ 8 con kén, sợi dọc là chập tơ từ 10 con kén). Thợ dệt sẽ mắc cửi coi khung, đứng canh mặt vải không rời mắt mỗi giây để tránh lỗi, thấy tơ hơi gợn lên là phải gỡ, phải dấu được mối nối giữa các đoạn để cả cây lụa như được dệt ra từ một sợi tơ duy nhất. Thế mà vải dệt xong, vẫn cần một người thật cẩn thận, mang kính cầm nhíp xăm xoi tỉ mẩn từng milimet để “cứu” những vết tơ hơi lằn trên mặt lụa. Rồi lụa được cho vào luộc để ra hết chất keo ông tằm, sau đó mới mang vào nhuộm. 100kg trái mặc nưa xay nhỏ sẽ đủ nhựa nhuộm được 20m lụa. Da Một mất 9 ngày với 27 lần nhuộm rồi giặt xả, phơi rồi nhuộm lại…Da Hai vẫn quy trình như thế trong 9 ngày. Da Ba cùng một quy trình trong 6 ngày. Ba da đầu tiên để sợi tơ ngấm nhựa mặc nưa, giúp vải đằm và đảm bảo độ bền. Phải canh để nhựa không bị thừa, nếu không vải sẽ quá nặng. Nếu “non nhựa”, màu đen sẽ lên không đủ sâu và dễ phai. Đến Da Bốn người thợ nhuộm bắt đầu chỉnh màu cho no đều, cây lụa được mang vào đập cho vỡ thớ sợi để màu nhuộm “ăn” thật sâu vào tận lõi tơ, màu đen bật lên nhưng nhức. Da Năm vẫn nhuộm tiếp, để bóng láng mặt vải, sau đó mang giặt và đập vải. Lúc này miếng vải đã gần như cố định về “nhan sắc”, nhưng cần cảm giác mềm mại mơn man – người ta sang Da Sáu: miếng vải được đập kỹ, giặt bằng nước sông Lãnh, phơi khô sau đó mang vào ủi thật phẳng phiu. “Không có con số chính xác về số lượt nhuộm mặc nưa, vì thời tiết xấu cây vải không ăn nhựa thì riêng Da Một đã phải nhuộm tới hơn 50 lần. Có được tấm lãnh Mỹ A lên sắc đen huyền lấp lánh, mát mượt trên da thịt, phải trải qua khoảng 100 lần nhuộm, 20 lần giặt xả, khoảng 10 lần đập vải…”- Nguyễn Hữu Trí bỏ hết cả ngón tay ngón chân ra đếm, rồi lắc đầu như bất lực trước sự nhiêu khê của những con số. Trí còn đếm được trên một mét lãnh có 13 ngàn sợi chạy ngang, nghĩa là cần 104 ngàn con kén được chập thành tơ. Làm sao người mặc có thể tưởng tượng ra mình mang trên người những tinh hoa của từng ấy kiếp tằm???
Cả cây lụa như được dệt từ một sợi tơ duy nhất
Từ lúc dệt cho đến khi nhuộm xong một miếng lãnh Mỹ A mất 4 tháng. “Với sự khó tính của cô Râu, chúng tôi phải làm ra loại lãnh đẹp hơn ngày xưa tới 10 phần” – ông Tám Lăng kể, đơn giản như thuật lại sáng nay vừa ngồi chỗ nào. Năm 1991, ra đời 500m lãnh đầu tiên theo “chuẩn của Rose”. Không đạt yêu cầu, Rose vẫn thu mua, vừa động viên vừa kèm cặp gia đình Tám Lăng hoàn thiện kỹ thuật dệt và nhuộm. 1992, số lãnh dệt được 1.000m, đạt 70% yêu cầu. Họ đồng hành cùng nhau đi chậm và chắc chắn, không sốt ruột, không nản lòng, không phân vân. Và từ 1995 thì lãnh Mỹ A đã đủ chuẩn để làm nguyên liệu cho nhiều nhãn thời trang xa xỉ của thế giới. Rồi Rose Morant rời Việt Nam, công ty của chị sang nhượng lại cho một nhà cung cấp khác, người trung chính giữ lời Tám Lăng thì vẫn tuân thủ lời hứa ngày nào: chỉ dệt ra thứ vải tốt nhất.
Ông Tám Lăng hiện đã lui về nghỉ ngơi, cơ ngơi xưởng dệt trao lại cho con trai. Buổi trưa nắng chói, Trí đưa chúng tôi ra ruộng mặc nưa khoát tay chỉ: “Cả vùng trồng mặc nưa chỉ để bán cho nhà tôi. Nếu trúng mùa, số mặc nưa đủ nhuộm cho 10.000m vải, nhưng hiện nay nhà tôi chỉ làm 3.000m. Mình có thể dệt tới 6.000m, nhưng Hãng (công ty đang thu mua lãnh Mỹ A cho xưởng Tám Lăng) rất cố gắng nhưng cũng chỉ bán được như thế. Tôi lo cho mặc nưa lắm. Người dân không bán được trái, họ sẽ đốn bỏ mặc nưa để trồng cây khác có lời hơn. Bên Campuchia mặc nưa đã bị xóa sổ rồi, chỉ còn vài vườn ở đất Tân Châu này…”
Thị trường bán lẻ trong nước thì sao? Trí lắc đầu buồn bã, thẩm mỹ sặc sỡ và thói quen tiêu dùng nhanh tiện không cho Lãnh Mỹ A khe cửa hẹp nào. Làm ra tấm lãnh đã cực nhọc, nhưng để dùng được nó cũng hầu đến khổ. Lãnh Mỹ A phải khâu tay, nếu dùng máy may nhất định phải là loại máy tốc độ cực chậm, dùng kim khâu đầu tròn – thì thớ lụa mới không bị xé ở đường may. Riêng tiền nguyên liệu để may lên một bộ váy đã hàng triệu bạc, lại chỉ có duy nhất màu đen, lại đòi hỏi thủ công toàn phần…người “nhiễu sự” về chuyện mặc như thế đâu phổ biến?
Trí cầm cây lãnh lên vuốt ve, kể bằng giọng âu yếm mệt mỏi như khi người ta nói về một cục yêu: “Nó là loại rắc rối, lúc nhựa mặc nưa tốt nhất thì đúng mùa mưa dai dẳng, đẩy vải ra phơi ngong ngóng hong sấy chống mốc phát ốm, nhuộm đi nhuộm lại biết bao khổ. Lúc trời nắng đẹp, vải được nước phơi thì mặc nưa đã hết mùa, thứ quả ấy phải dùng ngay khi còn tươi nhựa, đâu cất giữ dành dụm được chờ ngày đẹp trời. Chỉ riêng chuyện kiếm chỗ phơi đã thấy Nó đỏng đảnh. Phơi trên cỏ, nhưng cỏ phải có độ cứng đủ để nâng vải hứng nắng, đồng thời phải đủ mềm để không xước vải, cả bãi phơi mênh mông như vậy mà từng ngọn cỏ cao bằng bặn như đo thước. Hình như càng khó khăn thì ba tôi càng thương nghề. Ổng chỉ sợ lúc mình già lẫn, tấm tình với nghề của bọn tôi không có người giữ nhịp, lãnh sẽ bị thờ ơ…”.
Bộ sưu tập Lãnh mỹ A
Trí đang mang vác trách nhiệm người cuối cùng dệt lãnh Mỹ A. Thứ lụa huyền ảo và đẹp như một nỗi buồn này có thể sinh sôi tiếp diễn hoặc tuyệt mệnh – đều do Trí. “Cô Râu có mong ước làm sao lãnh Mỹ A đa sắc, nhưng với điều kiện màu nhuộm phải hoàn toàn thiên nhiên”. Ao ước bâng quơ của người phụ nữ Pháp gắn bó một lòng hồi sinh lãnh Mỹ A, với Trí như món nợ ân tình phải trả. Thì anh đi tìm màu nhuộm mới. Kỳ cạch suốt từ 1997, Trí lấy màu từ đất đá, vỏ cây, lá, củ, thân rễ, lõi gỗ…với các thử nghiệm cầu kỳ nhất mà anh có thể tưởng tượng ra. Tới 2003 Trí tìm được 7 màu mới cho lụa Tân Châu (lụa gốc chỉ có màu đen mặc nưa hoặc trắng ngà màu nguyên của tơ tằm). Nhà thiết kế Võ Việt Chung có một bộ sưu tập áo dài mang ra quốc tế với tên “Mơ về Châu Á” – lụa tơ tằm Tám Lăng với 7 sắc màu từ cây cỏ do Trí tìm ra. Cuối năm 2015 chúng tôi về Tân Châu, Trí mang bảng màu ra khoe. Lụa nhà Trí đã có 12 màu, nhưng anh vẫn mang nỗi niềm bất toại: “Màu từ thiên nhiên biến hóa khôn lường. Nhuộm lên màu thì dễ, nhưng làm sao để màu đó gia cố kết cấu vải thêm bền, bám màu không phai được như mặc nưa – tới giờ tôi vẫn chưa tìm được…”. Trí bị ám ảnh bởi tone xanh, thứ màu không thể giữ lại, diễm lệ và sẵn sàng phôi phai tan biến. Trí vẫn mơ về cây tràm cổ của đất Tân Châu, loài cây đã bị tuyệt diệt ấy theo lời kể của những người già thì nó chiết ra nhựa xanh ngắt và bám màu bền bỉ. “Biết đâu sẽ là một thứ Mặc nưa màu xanh??! Tôi nhất định phải đi tìm…”
Bộ sưu tập Lãnh mỹ A
Trí đang mang vác trách nhiệm người cuối cùng dệt lãnh Mỹ A. Thứ lụa huyền ảo và đẹp như một nỗi buồn này có thể sinh sôi tiếp diễn hoặc tuyệt mệnh – đều do Trí. “Cô Râu có mong ước làm sao lãnh Mỹ A đa sắc, nhưng với điều kiện màu nhuộm phải hoàn toàn thiên nhiên”. Ao ước bâng quơ của người phụ nữ Pháp gắn bó một lòng hồi sinh lãnh Mỹ A, với Trí như món nợ ân tình phải trả. Thì anh đi tìm màu nhuộm mới. Kỳ cạch suốt từ 1997, Trí lấy màu từ đất đá, vỏ cây, lá, củ, thân rễ, lõi gỗ…với các thử nghiệm cầu kỳ nhất mà anh có thể tưởng tượng ra. Tới 2003 Trí tìm được 7 màu mới cho lụa Tân Châu (lụa gốc chỉ có màu đen mặc nưa hoặc trắng ngà màu nguyên của tơ tằm). Nhà thiết kế Võ Việt Chung có một bộ sưu tập áo dài mang ra quốc tế với tên “Mơ về Châu Á” – lụa tơ tằm Tám Lăng với 7 sắc màu từ cây cỏ do Trí tìm ra. Cuối năm 2015 chúng tôi về Tân Châu, Trí mang bảng màu ra khoe. Lụa nhà Trí đã có 12 màu, nhưng anh vẫn mang nỗi niềm bất toại: “Màu từ thiên nhiên biến hóa khôn lường. Nhuộm lên màu thì dễ, nhưng làm sao để màu đó gia cố kết cấu vải thêm bền, bám màu không phai được như mặc nưa – tới giờ tôi vẫn chưa tìm được…”. Trí bị ám ảnh bởi tone xanh, thứ màu không thể giữ lại, diễm lệ và sẵn sàng phôi phai tan biến. Trí vẫn mơ về cây tràm cổ của đất Tân Châu, loài cây đã bị tuyệt diệt ấy theo lời kể của những người già thì nó chiết ra nhựa xanh ngắt và bám màu bền bỉ. “Biết đâu sẽ là một thứ Mặc nưa màu xanh??! Tôi nhất định phải đi tìm…”
Trong xưởng nhuộm của Tám Lăng có một bó chổi xuể bằng chét tay lấy về từ vùng núi Ninh Thuận. “Đó là cây chổi Tổ của người thợ nhuộm” – Trí thành kính nói. Cây chổi dùng để nhúng vào nước rồi vảy lên cuốn vải, cho vải đủ ẩm mới đưa vào máy đập. Người thợ nhuộm giỏi nghề phải biết coi chừng nhịp nước, nếu vải khô quá sẽ không ăn đủ nhựa mặc nưa, vải dư nước mặc nưa bị “ói” ra mất công nhuộm lại. Trong bí kíp truyền đời của nghề làm lãnh, không một ai dùng cách nào khác để vẩy nước cho cây vải. “Chúng tôi có niềm tin rằng chỉ dùng đúng cây chổi tổ, tấm lãnh Mỹ A mới trở nên mềm mại và bóng đẹp…”
Bộ sưu tập lãnh mỹ A của nhà thiết kế Công Trí
Bộ sưu tập lãnh mỹ A của nhà thiết kế Công Trí
Niềm tin là một thứ quyền lực vô hình vô ảnh nhưng chắc chắn đến mức kỳ vĩ. Biết đâu, ông Tám Lăng và giờ đây là Nguyễn Hữu Trí đã dấn thân vào vạn dặm độc hành hun hút của lãnh Mỹ A với niềm tin như một bóng mát trên đầu? Và biết đâu, chỉ với gia tài duy nhất là niềm tin, sẽ có ngày Trí tìm thấy cây Tràm cổ – hoang đường như một hóa thạch hồi sinh. Hẳn lãnh Mỹ A sẽ mang một nhan sắc mới với thứ “mặc nưa” kỳ lạ ánh lên màu diệp lục…
Nguồn: nguyenquynhhuong.wordpress.com
Hanoia: “Vũ điệu đen huyền bí” từ Lãnh Mỹ A của NTK Phương Nguyễn
Hanoia Lãnh mỹ A Tân Châu
Dưới con mắt của Nguyễn Ngọc Phương (Phương Nguyễn), nhà thiết kế riêng cho dòng Lãnh Mỹ A của thương hiệu Hanoia, sắc đen kiêu sa của lụa chưa bao giờ trở nên quyến rũ và mượt mà đến vậy.
Nói đến Lãnh Mỹ A, không ít người trong thế hệ ông bà chúng ta chợt dâng lên trong lòng hình ảnh cô gái xứ lụa Tân Châu dịu dàng, duyên dáng.
“Bên nàng mặc Lãnh Mỹ A
Đưa đò sang chợ tưởng xa hóa gần”
Lãnh Mỹ A ngày nay vẫn óng ả và mượt mà như vậy nhưng dưới góc nhìn đầy sáng tạo của các nhà thiết kế, màu đen huyền bí ấy và hiệu ứng của da, của giấy trên bề mặt lụa dường như trở nên độc đáo và cá tính hơn.
Nhà thiết kế Phương Nguyễn và Bộ sưu tập Vũ điệu đen huyền bí.
Phương Nguyễn là một trong số ít những nhà thiết kế đi theo tiếng gọi của thời gian. Dù tuổi đời, tuổi nghề còn trẻ, cô có một tình yêu và niềm đam mê lớn với những giá trị truyền thống của Việt Nam. “Câu chuyện về bác Tám Lăng, một nghệ nhân lãnh suốt hơn 60 năm qua đau đáu một nỗi niềm làm sao giữ được nghề và người con trai nối nghiệp bác, anh Nguyễn Hữu Trí khiến tôi vô cùng cảm động. Qua những họa tiết trang trí xếp nếp, những đường cắt chéo, những sóng lụa tự do, tôi muốn tôn vinh vẻ đẹp tự nhiên của chất liệu lụa hoàn mỹ này. Tôi muốn tạo nên vẻ thướt tha, bay bổng, gợi nhớ một Hà Nội xưa”, Phương chia sẻ.
![]() |
| Bộ sưu tập mang vẻ thướt tha, bay bổng, gợi nhớ một Hà Nội xưa. |
Không có gì sang quý và kiêu sa như lụa. Cũng không có vẻ đẹp nào đáng được trân trọng và nâng niu như người con gái ở độ tuổi thanh xuân. Phương Nguyễn đã khiến cho vẻ đẹp đó càng trở nên yêu kiều hơn nhờ những mẫu thiết kế thanh lịch mà gợi cảm. Đó là chiếc đầm suông điệu đà làm nổi bật làn da ngọc ngà với những sóng lụa chảy tràn trề theo từng cử động của cơ thể. Đó là chiếc áo hai dây cổ trễ hay áo cổ tròn, dài tay, lưng xẻ chữ V, kết hợp cùng váy ôm xếp nếp với nút thắt dịu dàng bên hông. Nếu trời bỗng nhiên se lạnh, bạn có thể kết hợp cùng một chiếc khăn choàng cũng bằng chất liệu Lãnh Mỹ A, mà kỹ thuật thêu smocking đã tạo nên những độ nhún vô cùng quyến rũ, hoặc một chiếc vest không dày, không mỏng, dáng cổ điển, tay liền thân, khi cần vẫn có thể khoe bộ váy áo lịch lãm bên trong. Phương Nguyễn còn sáng tạo nên những chiếc mấn xinh xinh, vốn một thời là nét đặc trưng của thiếu nữ Hà Thành. Cô gái Hà Nội xưa thường để tóc dài, đen nhánh được chít gọn gàng trong vành khăn nhung. Cô gái Hà Nội nay làm điệu với chiếc mấn cách điệu trên đầu, thấy mình thật cá tính.
![]() |
Hình ảnh cô gái Hà Nội kiêu sa trong màu lụa đen huyền bí. |
Xem thêm:
Nghệ thuật Lãnh Mỹ A
Một nét đặc biệt nữa trong bộ sưu tập của Phương Nguyễn là những dải tết smocking ở cổ, sau lưng hoặc bên sườn. Smocking có xuất xứ từ Anh vào khoảng thế kỷ XII, thường được dùng để trang trí trên áo lót và phần ngực áo của những quý cô thuộc tầng lớp thượng lưu. Kỹ thuật này rất phù hợp với chất liệu lãnh, làm tôn lên độ đen bóng mượt mà như da trên bề mặt. Ngoài ra, quá nhiều màu đen dễ tạo cảm giác lạnh lùng, đơn điệu. Bởi vậy, Phương Nguyễn luôn kết hợp các mẫu thiết kế của mình với trang sức sơn mài Hanoia. “Hai chất liệu này đều sang quý và tinh tế như nhau, chúng bổ trợ cho nhau và khiến cả hai cùng tỏa sáng”, Phương Nguyễn nói.
Một nét đặc biệt nữa trong bộ sưu tập của Phương Nguyễn là những dải tết smocking ở cổ, sau lưng hoặc bên sườn. Smocking có xuất xứ từ Anh vào khoảng thế kỷ XII, thường được dùng để trang trí trên áo lót và phần ngực áo của những quý cô thuộc tầng lớp thượng lưu. Kỹ thuật này rất phù hợp với chất liệu lãnh, làm tôn lên độ đen bóng mượt mà như da trên bề mặt. Ngoài ra, quá nhiều màu đen dễ tạo cảm giác lạnh lùng, đơn điệu. Bởi vậy, Phương Nguyễn luôn kết hợp các mẫu thiết kế của mình với trang sức sơn mài Hanoia. “Hai chất liệu này đều sang quý và tinh tế như nhau, chúng bổ trợ cho nhau và khiến cả hai cùng tỏa sáng”, Phương Nguyễn nói.
![]() |
Những dải tết smocking ở cổ, sau lưng hoặc bên sườn đặc sắc. |
![]() |
| Smocking thường được dùng để trang trí trên áo lót và phần ngực áo của những quý cô thuộc tầng lớp thượng lưu. |
Vũ điệu đen huyền bí của Phương Nguyễn đang chờ bạn khám phá tại Hanoia Boutique, 38 Hàng Đào, Hà Nội, một không gian đậm nét văn hóa và lịch sử mà bất cứ ai cũng cảm thấy dễ chịu, khoan khoái khi bước chân vào.
Hanoia và thủ công mỹ nghệ truyền thống
Hanoia nghệ thuật sơn mài
Nghệ thuật và thiết kế sẽ không thể tồn tại nếu thiếu nghề thủ công. Hanoia dựa vào người thợ thủ công và các nhà thiết kế để xây dựng cho mình một ngôn ngữ sơn mài mới.
Hanoia ra đời năm 1997 tại tỉnh Bình Dương, gần Sài Gòn, một trong những thủ phủ của sơn mài Việt Nam từ thế kỷ XIV.
Kế thừa tinh hoa của nghề thủ công truyền thống, một nhóm nhỏ nghệ nhân Việt, cùng các nhà thiết kế nước ngoài, đã khởi nghiệp từ việc thiết kế những đôi guốc sơn mài sành điệu cho các tín đồ thời trang. Công việc kinh doanh này đã rất thành công ở châu Âu trong suốt 3 mùa liền. Năm 2002, họ chuyển sang chế tác phụ kiện thời trang cao cấp cho các nhà mốt có uy tín ở châu Âu và mối quan hệ hợp tác này đến nay vẫn còn tiếp diễn.
Năm 2013 đánh dấu thành công của bộ sưu tập trang trí nội thất mới, dẫn đến sự ra đời của xưởng sơn mài thứ hai tại một làng nghề sơn mài nổi tiếng được hình thành từ thế kỷ XVI ở gần Hà Nội. Những người thợ sơn mài tài hoa và khéo léo vẫn tiếp tục phát huy các kỹ thuật thủ công truyền thống. Ngày nay, các sản phẩm sơn mài Hanoia đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới.
Trưởng thành lên nhờ bí quyết riêng trong nghề sơn mài và một phong cách thiết kế độc đáo, kết hợp hài hòa hai nền văn hóa Á - Âu, Hanoia mong muốn phát triển những bộ sưu tập mang thương hiệu riêng của mình và hướng tới phân khúc thị trường hạng sang dành cho đồ lưu niệm cao cấp, nữ trang sành điệu, đồ trang trí nội thất và quà tặng văn phòng. Với hai xưởng sơn mài đặt tại hai đầu Nam - Bắc, Hanoia là một trong những nhà sản xuất sơn mài lớn ở Việt Nam tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật châu Âu, như chứng chỉ REACH (Đăng ký, Định giá, Cấp phép và Hạn chế sử dụng Hóa chất).
Trân trọng truyền thống sơn mài Việt Nam, Hanoia mong muốn làm sống lại những cảm hứng cổ xưa thông qua những hình khối, sắc màu, hoa văn và kỹ thuật đương đại. Từ mỹ thuật đến nghề thủ công, Hanoia góp phần tôn vinh nét độc đáo của những chất liệu thuần Việt, những hoạt tiết biểu trưng cho một vùng văn hóa Á Đông và nâng giá trị sơn mài Việt lên tầm quốc tế.
Xem thêm:
Nghệ thuật sơn mài
Lãnh mỹ A
Xem thêm:
Nghệ thuật sơn mài
Lãnh mỹ A
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)
















